CHỦ ĐỀ THÁNG 10:chăm ngoan - học giỏi
LÀNG VĂN HÓA DI LUÂN
Thôn Di Luân dân cư được phân bố hầu hết dọc hai bên đường quốc lộ 1A với chiều dài hơn 1km.
Phía Bắc giáp với xã Quảng Phú.
Phía Đông giáp với xã Cảnh Dương.
Phía Tây giáp với thôn Phúc Kiều.
Phía Namgiáp với thôn Di Lộc.
Toàn thôn hiện tại có 249 hộ gia đình với hơn 850 nhân khẩu, đời sống chủ yếu dựa vào kinh doanh, dịch vụ và buôn bán nhỏ, ngoài ra còn mở rộng nhiều ngành nghề như: Thợ mộc, thợ nề, chăn nuôi, làm vườn đã tạo thêm việc làm và thu hút khá nhiều lao động.
Làng Di Luân có lịch sử lâu đời, với truyền thống cách mạng được hun đúc, gây dựng nên từ các bậc cha ông thủa trước.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư tập 1 của Ngô Sỹ Liên, đời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) có ghi : “ Hơn 900 năm về trước vùng Quảng Bình – Vĩnh Linh là nơi tiếp nhận cư dân Việt đầu tiên vào khai phá”. Trong thời gian đó, vua Lê Thánh Tông cũng cho in Hồng Đức bản đồ với phần đất từ Đèo Ngang trở vào và trong cuộc nam chinh năm 1470 khi qua Đèo Ngang nhà vua có bài thơ: Di Luân Hải tấn với câu đầu là: “Hoành Sơn tây vọng thị Di Luân”.
Vậy Di Luân là một địa danh khởi đầu từ Đèo Ngang vào của vùng đất một thời được coi là: “bắc phòng, nam tiến”, luôn được nhắc đến cả trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, trong Ô châu cận lục của Dương Văn Anh và trong Phương Đình Dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu, với câu “Cửa Roòn thuộc huyện Bình Chánh (nay là Quảng Trạch), có đặt chức trấn thủ tên cũ là cửa bể Di Luân.

Vào thời vua Lê Kính Tông – năm 1600, ngài Chánh đội trưởng Bùi Bá Lịnh được triều đình nhà Lê cử vào trấn giữ Di Luân – một tiền đồn ở vùng bắc Bố Chánh phía ngoài sông Gianh. Ngài Bùi Bá Lịnh thấy vùng đất nơi này sơn thủy hữu tình, là nơi địa linh nhân kiệt, đã cho người con duy nhất nơi này của mình là ngài Bùi Quang Hoa cùng với các ngài Trần Đình Cúc, Phan Lê Bổng, Nguyễn Tiến Đồ đưa cả dòng họ vào khai khẩn đất hoang, lập ấp dựng làng lấy tên là ấp Di Luân. Sau đó có ngài Trần Hậu Phúc ở Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh cũng đưa cả gia tộc vào hợp lực với ngài đã nói ở trên để cùng cộng cư khai lập. Người đời sau nhớ ơn công đức của các ngài đã tôn họ lên làm Ngũ Hiền Khai Khẩn được thờ chung với thành hoàng làng là Hưng Đạo Đại Vương – Trần Quốc Tuấn. ở đình lớn của làng.
Như vậy cái tên Di Luân đã có hơn 600 năm lịch sử, làng Di Luân được hình thành cách đây cũng hơn 400 năm. Thuần phong mỹ tục của người Di Luân cũng bắt đầu từ đó. Đất lề, quê thói,, các cụ xưa dựa vào đạo lý ngũ thường: NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN, trong đó lấy đức nhân làm trọng để đối nhân xử thế và răn dạy con cháu đời sau. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, người Di Luân luôn đề cao nét văn hóa cộng đồng, làng xóm quê hương, nó được gìn giữ và phát huy từ đời này sang đời khác, thể hiện xuyên suốt quá trình lịch sử của làng bảng bằng những công trình xây dựng như: Hệ thống đình làng, giếng làng, ghềnh đá chắn lũ, chợ và nhà thờ các dòng họ. Tính nhân văn của những công trình văn hóa ấy vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay, đã và đang được nhân dân Di Luân khôi phục, bảo tồn.

Dưới thời phong kiến, Di Luân là đất khoa bảng học hành, đã có nhiều người đỗ đạt làm quan, được lưu danh vào sử sách như: Cụ Trần Ngọc Quán, cụ Bùi Nhật Tiến, cụ bùi Quang Huy, cụ Trần Ngọc Diện. Đặc biệt, cụ Trần Ngọc Quánlàm đến chức Di thái hầu hiệp trấn sơn nam, được cụ Nguyễn Hàm Ninh làm thơ ca ngợi.
Trong giai đoạn nửa thực dân nửa phong kiến, người dân Di Luân vẫn chăm chỉ học hành, chí thú làm ăn. Ở thời kỳ này, tính cộng đồng lại một lần nữa được thể hiện và được lưu truyền cho đến ngày nay, đó là vào những năm 30 của thế kỷ XX, cụ Bùi Quang Phương – làm việc tại Nha Trang đã gửi biếu cho làng 300 gốc dừa để trồng và thu hoạch hoa lợi. Bởi cụ hiểu cảnh vất vả của Di Luân dù ở đâu cũng hết lòng đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau và luôn một lòng hướng về que cha đất tổ.
Đảng Cộng Sản ViệtNamra đời và lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên cướp chính quyền và tiếp tục tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Dưới sự lãnh đâọ của Đảng bộ xã Quảng Tùng, thôn Di Luân đã thành lập một trung đội dân quân tự vệ để bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ thôn xóm, tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ và nhân dân thôn Di Luân đã thực hiện phong trào tuần lễ vàng, hũ gạo cứu đói, lập quỹ cứu quốc, mở các lớp bình dân học vụ để xóa mù chữ, lập đội văn nghệ biểu diễn góp phần cùng đồng bào cả nước chống giặc ngoại xâm.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, địa danh Di Luân nằm trong vùng trọng điểm đánh phá ác liệt bằng không quan và hải quân của kẻ thù, vì nơi đây có hai bến phà Roòn đã đi vào lịch sử và quốc lộ 1A – con đường huyết mạch để vận chuyện lương thực, vũ khí vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Giai đoạn này, dân Di Luân có một số được sơ tán lên vùng núi Quảng Châu, Quảng Hợp để lánh nạn, số khác ở lại cùng với dân quân du kích chiến đấu bảo vệ làng, tham gia cứu thương tải gạo, san lấp hố bom, ngụy trang cho các đoàn xe qua lại. HTX tiểu thủ công nghiệp của thôn vừa tiếp tục sản xuất vừa làm công tác phục vụ chiến đấu. Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổ quốc, lớp lớp con em Di Luân hăng hái lên đường nhập ngũ vàoNamchiến đấu và tham gia thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, đã cống hiến Tổ quốc 20 liệt sỹ. Trong thôn có 1 bà mẹ Việt Nam anh hùng là mẹ Hoàng Thị Ve – mẹ của 3 liệt sỹ, có 1 đồng chí cán bộ tiền khỏi là đ/c Trần Đình Hiếu, 18 và nhiều gia đình có công với cách mạng.
Nguyễn Thanh Tân @ 14:47 06/05/2013
Số lượt xem: 1353
- THÔN PHÚC KIỀU ĐÓN NHẬN DANH HIỆU DI TÍCH LỊCH SỬ "CHÙA PHẬT BÀ, MIẾU THÀNH HOÀNG LÀNG, VÀ MIẾU CAO CÁC MẠC SƠN" (22/04/13)
- HỘI THI EM HÁT DÂN CA HUYỆN QUẢNG TRẠCH NĂM 2012 (12/12/12)
- LỄ KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2012-2013 (28/09/12)
- Đồng hành ViolympicToánquamạnginternet-mộthoạtđộngbồidưỡng nghiệp vụcho GVởTHQuảngTùng (07/04/12)
- Triển khai chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tintrongnhà trường (16/03/12)
QUẢNG TÙNG





